𝐂𝐎̂𝐍𝐆 𝐂𝐔̣ Đ𝐈𝐄̂̀𝐔 𝐇𝐎̀𝐀 𝐂𝐀̉𝐌 𝐗𝐔́𝐂 𝐂𝐇𝐎 𝐓𝐑𝐄̉ Đ𝐀̣̆𝐂 𝐁𝐈𝐄̣̂𝐓




Một số lưu ý cho việc can thiệp…
– Cho đến thời điểm hiện tại, chỉ có các phương pháp giáo dục – hành vi (can thiệp hành vi, các phương pháp theo tiếp cận ABA, giáo dục đặc biệt, âm ngữ trị liệu) đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị cho trẻ có các rối loạn phát triển. Các phương pháp khác chưa có bằng chứng về hiệu quả rõ ràng.
– Hầu hết các dạng rối loạn phát triển chưa xác định được nguyên nhân, do đó việc tìm nguyên nhân hay đổ tội sẽ không giúp gì cho trẻ, bố mẹ và gia đình.
– Không có phương pháp điều trị duy nhất nào phù hợp với mọi trẻ, việc can thiệp điều trị tường cần nhiều thời gian, sự tham gia tích cực của bố mẹ, gia đình và nhà trường.
– Tránh và hạn chế cho trẻ xem tivi, điện thoại, máy tính bảng, xem youtube và các chương trình tivi quá sớm và quá nhiều. Không cần cắt hoàn toàn nhưng không nên quá 1h/ngày, và luôn kèm với việc dạy dỗ khi xem, hoặc sử dụng như một phần thưởng.
– Thường xuyên có người kèm cặp, giao tiếp, nói chuyện, hướng dẫn, tránh để trẻ một mình trong thời gian dài.
– Khuyến khích sự tự lập và trải nghiệm cho trẻ: tạo cơ hội và điều kiện để trẻ làm mọi việc trong khả năng của mình kèm theo sự hướng dẫn, củng cố và động viên.
– Ngoài các kỹ năng ngôn ngữ (ví dụ nói) và nhận thức (ví dụ nhận biết sự vật hiện tượng, con số, chữ cái) nên cho trẻ học hỏi và trải nghiệm các kỹ năng xã hội (ví dụ cách nói chuyện, giao tiếp, kết bạn…)
Trang web hữu ích:
– http://tranvancong.net/tailieu (gồm các tài liệu liên quan, phù hợp theo từng dạng vấn đề trẻ gặp phải)
– http://tretuky.com (trang web của Câu lạc bộ Gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội)
– https://sites.google.com/site/nuoicontuky (các thông tin thực chứng và tin cậy về rối loạn phổ tự kỷ)








CÁC KĨ NĂNG CƠ BẢN CHA MẸ CẦN CÓ ĐỂ DẠY CON TỰ KỶ TẠI NHÀ
(Phần 1)
1. Gọi tên trẻ:
– Thường xuyên gọi tên trẻ để lôi kéo sự chú ý của trẻ và giúp trẻ nhận ra bản thân, tăng khả năng đáp ứng khi bố mẹ gọi
– Gọi tên trẻ trong các hoạt động, trong các trò chơi, khi sai việc trẻ:
Ví dụ: “An. Đưa mẹ bóng”, “An. Con gà đâu?”
2. Ngang tầm mắt:
– Ngồi ở vị trí ngang tầm mắt với trẻ, giúp trẻ được giao tiếp mắt với người đối diện, duy trì tần suất và thời gian giao tiếp mắt khi có cơ hội.
– Trước tiên hãy sử dụng những đồ chơi, đồ ăn, vật hoặc là hoạt động mà trẻ thích, có hứng thú để trẻ chủ động nhìn mắt nhiều hơn.
3. Theo dõi và tham gia:
Quan sát các hoạt động của trẻ sau đó tham gia hoạt động đó cùng với trẻ. Trẻ là người dẫn dắt vào hoạt động, chơi cùng với trẻ để tạo sự gắn kết, mối quan hệ gần gũi với trẻ, sau đó thay đổi và tạo ra những cách chơi cho phù hợp.
4. Tập ngồi:
Tập ngồi giúp trẻ tập trung chú ý để hoàn thành được nhiệm vụ, biết chờ đợi và biết cách chơi lần lượt. Khi cho trẻ tập ngồi, cần tránh, loại bỏ các yếu tố gây xao nhãng và mất tập trung như: tiếng ồn (tivi, chuông điện thoại, tiếng nói chuyện), các đồ chơi xung quanh (gọn gàng, tránh ở trong tầm nhìn của trẻ). Vị trí ngồi nên là một góc hẹp, trẻ khó di chuyển khỏi vị trí.
5. Đợi và làm theo lần lượt:
– Trong các hoạt động cần tạo ra sự tương tác, đó là chờ đợi và luân phiên theo lượt. Khi người lớn biết đợi và luân phiên với trẻ, trẻ cũng sẽ học được kĩ năng đợi và luân phiên với người khác.
– Đợi và làm theo lần lượt là kĩ năng giúp trẻ trở thành một người biết giao tiếp thật sự.
(Còn tiếp)


